TCVN 4756:1989 Nối Đất Và Nối Không: Bảng Giá Trị Điện Trở Yêu Cầu Theo Từng Loại Hệ

Rate this post

TCVN 4756:1989 là quy phạm nối đất và nối không các thiết bị điện. Tiêu chuẩn này yêu cầu điện trở nối đất không quá 4 Ω với lưới hạ áp đến 1000 V có trung tính nối đất trực tiếp, và nới lên 10 Ω khi công suất nguồn không vượt 100 kVA. Đây là ngưỡng an toàn điện, không phải ngưỡng chống sét.

Rất nhiều hồ sơ nghiệm thu tại Việt Nam ghi nhầm một dòng: “điện trở tiếp địa đạt yêu cầu theo TCVN 4756”. Câu đó chỉ đúng khi bãi tiếp địa đang phục vụ an toàn điện. Nếu đó là bãi tiếp địa chống sét, tiêu chuẩn tham chiếu phải là TCVN 9385 hoặc IEC 62305. Hai hệ tiêu chuẩn này ra đời cho hai mục đích khác nhau, nên con số ôm cũng khác nhau.

Bài viết giải thích phạm vi thật của TCVN 4756, bảng giá trị điện trở theo từng loại hệ, và cách quyết định nên tách hay gộp bãi tiếp địa.

Cọc tiếp địa thép mạ đồng dùng cho hệ nối đất thiết bị điện theo TCVN 4756:1989
Cọc tiếp địa là phần tử cơ bản của cả hệ nối đất an toàn điện lẫn hệ tiếp địa chống sét, nhưng yêu cầu điện trở của hai hệ không giống nhau.

TCVN 4756:1989 quy định về cái gì?

TCVN 4756:1989 có tên đầy đủ là “Quy phạm nối đất và nối không các thiết bị điện”. Phạm vi của nó là an toàn cho người khi thiết bị điện bị chạm vỏ, hư hỏng cách điện hoặc rò điện. Tiêu chuẩn đặt ra ba nhóm yêu cầu.

  • Đối tượng phải nối đất hoặc nối không — vỏ máy điện, khung tủ bảng điện, kết cấu kim loại của trạm, vỏ cáp, ống luồn dây, thiết bị di động dùng điện.
  • Giá trị điện trở nối đất tương ứng với từng cấp điện áp và từng chế độ trung tính.
  • Cấu tạo trang bị nối đất — vật liệu, tiết diện tối thiểu, chiều sâu chôn, cách nối và cách bảo vệ chống ăn mòn.

Điểm cần nhớ: TCVN 4756 không nói về kim thu sét, không nói về dây thoát sét, không nói về dòng xung 10/350 µs. Toàn bộ tiêu chuẩn xử lý dòng sự cố tần số công nghiệp 50 Hz. Đây là lý do không thể dùng nó làm căn cứ duy nhất cho hồ sơ chống sét.

Nối đất và nối không khác nhau thế nào?

Hai khái niệm này bị dùng lẫn lộn thường xuyên. Chúng là hai biện pháp bảo vệ riêng biệt, chọn theo chế độ trung tính của lưới.

Tiêu chí Nối đất bảo vệ Nối không bảo vệ
Cách làm Nối vỏ thiết bị xuống trang bị nối đất Nối vỏ thiết bị vào dây trung tính đã nối đất của nguồn
Áp dụng cho Lưới có trung tính cách ly với đất Lưới hạ áp có trung tính nối đất trực tiếp
Cơ chế bảo vệ Giảm điện áp tiếp xúc trên vỏ xuống mức an toàn Tạo dòng ngắn mạch đủ lớn để cắt nhanh aptomat hoặc cầu chì
Điều kiện hiệu quả Điện trở nối đất đủ thấp Tổng trở mạch vòng sự cố đủ nhỏ
Tương đương IEC Sơ đồ IT Sơ đồ TN (TN-C, TN-S, TN-C-S)

Trong lưới hạ áp phổ biến ở Việt Nam — 380/220 V, trung tính máy biến áp nối đất trực tiếp — biện pháp đúng là nối không. Chỉ nối đất vỏ mà không nối không trong lưới TN là một sai lầm nguy hiểm: dòng sự cố chảy qua đất thường quá nhỏ để cắt được thiết bị bảo vệ, vỏ máy giữ điện áp nguy hiểm suốt thời gian dài.

TCVN 4756 yêu cầu điện trở nối đất bao nhiêu ôm?

Đây là câu hỏi được tra nhiều nhất. Giá trị phụ thuộc vào cấp điện áp, chế độ trung tính và công suất nguồn.

Trường hợp Yêu cầu điện trở Ghi chú
Lưới đến 1000 V, trung tính nối đất trực tiếp ≤ 4 Ω Đo tại điểm nối đất trung tính nguồn
Lưới đến 1000 V, nguồn (máy biến áp hoặc máy phát) công suất ≤ 100 kVA ≤ 10 Ω Nới lỏng cho nguồn nhỏ
Nối đất lặp lại dây trung tính, nguồn trên 100 kVA ≤ 10 Ω Tại mỗi điểm lặp lại
Nối đất lặp lại dây trung tính, nguồn ≤ 100 kVA ≤ 30 Ω Tại mỗi điểm lặp lại
Lưới trên 1000 V, trung tính cách ly, hệ nối đất dùng riêng R ≤ 250/I và không quá 10 Ω I là dòng chạm đất tính toán, đơn vị A
Lưới trên 1000 V, trung tính cách ly, dùng chung với thiết bị đến 1000 V R ≤ 125/I và không quá 4 Ω Lấy giá trị nhỏ hơn

Hai công thức 250/I và 125/I xuất phát từ giới hạn điện áp trên trang bị nối đất: 250 V khi hệ chỉ phục vụ thiết bị cao áp, và 125 V khi hệ dùng chung với thiết bị hạ áp. Nhân điện trở với dòng chạm đất chính là điện áp xuất hiện trên hệ khi có sự cố.

Ví dụ: một trạm 22 kV trung tính cách ly có dòng chạm đất tính toán I = 20 A, hệ nối đất dùng riêng. Yêu cầu là R ≤ 250/20 = 12,5 Ω, nhưng trần cứng 10 Ω vẫn khống chế, nên giá trị thiết kế phải ≤ 10 Ω.

Nếu I = 40 A: R ≤ 250/40 = 6,25 Ω. Lúc này công thức chặt hơn trần 10 Ω, nên phải lấy 6,25 Ω. Dòng chạm đất càng lớn, yêu cầu điện trở càng nghiêm.

Lưu ý khi lập hồ sơ: TCVN 4756 ban hành năm 1989 và có nhiều bảng chi tiết theo loại công trình. Khi đưa số vào thuyết minh thiết kế hoặc biên bản nghiệm thu, hãy đối chiếu bản văn tiêu chuẩn hiện hành cùng quy định của đơn vị quản lý vận hành áp dụng cho dự án cụ thể, thay vì chép lại con số từ tài liệu tham khảo.

Vì sao chống sét chấp nhận 10 Ω còn an toàn điện đòi hỏi 4 Ω?

Câu hỏi này làm nhiều kỹ sư bối rối, nhất là khi chủ đầu tư hỏi tại sao chỗ thì 4, chỗ thì 10. Lý do nằm ở bản chất dòng điện mà mỗi hệ phải xử lý.

Đặc điểm Nối đất an toàn điện Tiếp địa chống sét
Loại dòng 50 Hz, kéo dài đến khi bảo vệ cắt Xung 8/20 µs hoặc 10/350 µs, kéo dài micro giây
Biên độ Vài chục đến vài trăm ampe Hàng chục kA
Thông số chi phối Điện trở thuần R Tổng trở xung Z, gồm cả điện cảm
Mục tiêu Giữ điện áp tiếp xúc dưới ngưỡng nguy hiểm cho người Tản năng lượng nhanh, hạn chế chênh lệch điện thế giữa các hệ
Ngưỡng thường gặp 4 Ω 10 Ω, riêng khu vực dễ cháy nổ thường siết chặt hơn

Với dòng 50 Hz kéo dài, người chạm vào vỏ thiết bị chịu điện áp trong hàng trăm mili giây. Ngưỡng chịu đựng của cơ thể quyết định giá trị 4 Ω.

Với dòng sét, thời gian tồn tại quá ngắn để gây điện giật theo cơ chế thông thường. Vấn đề chuyển sang chênh lệch điện thế và tia lửa phóng ngược sang các hệ kim loại lân cận. Ở đây, điện cảm của dây dẫn quan trọng hơn điện trở. Một bãi tiếp địa 2 Ω nhưng dây thoát sét đi vòng vèo, uốn gấp khúc, vẫn tạo ra điện áp xung rất cao do thành phần L·di/dt. Đây cũng là bài toán mà khoảng cách an toàn s trong IEC 62305-3 xử lý bằng công thức tách rời.

Kết luận thực hành: đừng đuổi theo con số ôm thật thấp cho hệ chống sét mà bỏ qua đường đi của dây thoát. Ưu tiên tuyến dẫn thẳng, ngắn, và liên kết đẳng thế đầy đủ giữa các hệ kim loại.

Nối đất lặp lại là gì và khi nào bắt buộc?

Nối đất lặp lại là việc nối dây trung tính xuống đất tại các điểm dọc theo tuyến, ngoài điểm nối đất tại nguồn.

Mục đích rất cụ thể. Trong lưới TN, nếu dây trung tính bị đứt ở đâu đó, toàn bộ vỏ thiết bị phía sau điểm đứt sẽ mang điện áp pha thông qua tải. Nối đất lặp lại tạo đường về thay thế, giữ điện thế vỏ ở mức thấp và duy trì khả năng cắt của bảo vệ.

Các vị trí thường yêu cầu nối đất lặp lại:

  • Đầu và cuối tuyến đường dây trên không.
  • Các điểm rẽ nhánh có chiều dài đáng kể.
  • Điểm dây trung tính đi vào công trình.
  • Dọc tuyến theo khoảng cách quy định của đơn vị quản lý vận hành.

Giá trị yêu cầu tại mỗi điểm lặp lại là ≤ 10 Ω với nguồn trên 100 kVA. Con số này lỏng hơn 4 Ω vì các điểm lặp lại làm việc song song với nhau và với điểm nối đất nguồn — điện trở tương đương của cả hệ thấp hơn nhiều so với từng điểm riêng lẻ.

Hệ thống chống sét nhà dân dụng gồm kim thu sét, dây dẫn sét và cọc tiếp địa, tách biệt với hệ nối đất an toàn điện
Trong một công trình, hệ tiếp địa chống sét và hệ nối đất an toàn điện có thể tồn tại song song. Chúng phải được liên kết đẳng thế, không được để rời rạc hoàn toàn.

Có nên dùng chung bãi tiếp địa cho chống sét và an toàn điện?

Đây là quyết định thiết kế gây tranh cãi nhất trên công trường. Có hai trường phái, và mỗi bên có lý trong bối cảnh riêng.

Phương án Ưu điểm Nhược điểm Phù hợp với
Bãi tiếp địa chung, liên kết đẳng thế Không có chênh lệch điện thế giữa các hệ khi sét đánh; chi phí thấp hơn; đúng triết lý IEC 62305 Dòng sét lan vào hệ điện, bắt buộc phải có SPD phối hợp Công trình mới, nhà cao tầng, nhà máy, trung tâm dữ liệu
Bãi tiếp địa tách riêng Hạn chế dòng sét đi thẳng vào hệ điện Rất khó tách thật sự trong lòng đất; dễ tạo chênh lệch điện thế nguy hiểm giữa hai hệ Trường hợp đặc biệt có phân tích riêng, ví dụ một số trạm đo lường

Xu hướng của tiêu chuẩn quốc tế là gộp và liên kết đẳng thế. Lý do đơn giản: hai bãi tiếp địa chôn cách nhau vài mét trong cùng một nền đất không hề độc lập về điện. Khi sét đánh, bãi chống sét vọt lên hàng chục kV trong khi bãi an toàn điện vẫn gần điện thế đất. Chênh lệch đó phóng qua bất cứ vật kim loại nào bắc cầu giữa hai hệ — thường là vỏ tủ điện, ống nước hoặc thang cáp.

Nếu chọn gộp, hai điều kiện phải làm đủ:

  1. Thanh đẳng thế chính tại điểm dây trung tính vào công trình, nối cả hệ tiếp địa chống sét, hệ nối đất an toàn điện, kết cấu thép, ống kim loại và vỏ cáp.
  2. SPD phối hợp theo cấp — Type 1 tại đầu vào, Type 2 tại tủ phân phối, Type 3 tại thiết bị nhạy cảm. Không có SPD, việc gộp bãi tiếp địa chuyển rủi ro từ kết cấu sang thiết bị điện tử.

Về giá trị điện trở khi gộp: lấy giá trị nghiêm ngặt nhất trong các yêu cầu áp dụng. Nếu hệ vừa phục vụ an toàn điện hạ áp (≤ 4 Ω) vừa phục vụ chống sét (≤ 10 Ω), thì ngưỡng nghiệm thu là 4 Ω.

Đo và nghiệm thu điện trở nối đất theo TCVN 4756 thế nào?

Phép đo chuẩn là phương pháp ba điện cực, còn gọi là phương pháp rơi thế. Cách bố trí điện cực gần giống với đo điện trở suất đất bằng cấu hình Wenner, nhưng mục tiêu khác: Wenner đo đặc tính của nền đất trước khi thiết kế, còn phép đo này đo đặc tính của trang bị nối đất đã thi công.

Các bước cơ bản:

  1. Tách hệ khỏi mạng. Ngắt liên kết giữa trang bị nối đất và dây trung tính hoặc các hệ khác. Nếu không tách, kết quả đo là điện trở của cả mạng song song, luôn thấp giả tạo.
  2. Đóng điện cực dòng cách hệ cần đo một khoảng ít nhất bằng 5 lần kích thước lớn nhất của bãi tiếp địa.
  3. Đóng điện cực áp tại khoảng 62% quãng đường từ hệ đo đến điện cực dòng, trên đường thẳng nối hai điểm.
  4. Đo và kiểm chứng. Dịch điện cực áp lên và xuống 10% khoảng cách, đo lại. Nếu ba giá trị lệch nhau dưới 5%, kết quả đáng tin.
  5. Ghi điều kiện đo — ngày, thời tiết, độ ẩm nền, nhiệt độ, model máy đo và ngày hiệu chuẩn.

Điểm hay bị bỏ qua: mùa đo. Điện trở nối đất mùa khô có thể cao gấp nhiều lần mùa mưa, tùy loại đất. Một hệ đo được 3,8 Ω vào tháng 8 hoàn toàn có thể vượt 4 Ω vào tháng 3. Hồ sơ tốt nên ghi rõ thời điểm đo và tính hệ số mùa, hoặc thiết kế có dự phòng dưới ngưỡng.

Giá trị đo phụ thuộc trực tiếp vào điện trở suất của nền đất tại vị trí công trình. Đất sét ẩm cho kết quả tốt với ít cọc, trong khi đất cát khô hoặc nền đá cần tăng số cọc, tăng chiều dài, hoặc dùng hóa chất giảm điện trở.

Năm lỗi thường gặp khi áp dụng TCVN 4756

  • Ghi sai tiêu chuẩn tham chiếu. Dùng TCVN 4756 làm căn cứ cho hồ sơ chống sét. Đúng ra phải dẫn TCVN 9385 hoặc IEC 62305 cho phần chống sét, và TCVN 4756 cho phần an toàn điện.
  • Đo mà không tách hệ. Kết quả 0,8 Ω trên một bãi ba cọc là dấu hiệu điển hình của việc đo cả mạng liên kết chứ không phải riêng bãi đó.
  • Chỉ nối đất vỏ trong lưới TN. Không nối không, dòng sự cố không đủ lớn để cắt aptomat, vỏ thiết bị mang điện áp nguy hiểm kéo dài.
  • Bỏ nối đất lặp lại ở điểm dây trung tính vào công trình, đặc biệt với nhà xưởng dùng đường dây trên không.
  • Nghiệm thu một lần rồi thôi. Mối hàn ăn mòn, cọc mục, đất co ngót đều làm điện trở tăng dần theo năm. Cần đo lại định kỳ và lưu lịch sử để thấy xu hướng.

Câu hỏi thường gặp về TCVN 4756

TCVN 4756:1989 còn hiệu lực không?

TCVN 4756:1989 vẫn được viện dẫn rộng rãi trong thiết kế và nghiệm thu điện tại Việt Nam. Tuy nhiên hệ thống văn bản kỹ thuật thay đổi theo thời gian, nên trước khi đưa vào hồ sơ pháp lý, hãy kiểm tra tình trạng hiệu lực hiện hành và quy định ngành áp dụng cho loại công trình của bạn.

Điện trở nối đất 4 Ω đo ở đâu?

Đo tại trang bị nối đất của điểm trung tính nguồn, sau khi đã tách khỏi các liên kết khác. Đây là điện trở của riêng bãi tiếp địa đó với đất, không phải điện trở tổng của toàn mạng nối đất trong công trình.

Nhà dân dụng có phải tuân theo TCVN 4756 không?

Có, ở phần nối không bảo vệ và nối đất lặp lại tại điểm dây trung tính vào nhà. Với nhà ở, biện pháp bảo vệ chính vẫn là aptomat chống dòng rò RCD kết hợp nối không đúng cách.

Bãi tiếp địa chống sét đo được 8 Ω có đạt không?

Đạt nếu hệ chỉ phục vụ chống sét và tiêu chuẩn áp dụng đặt ngưỡng 10 Ω. Không đạt nếu bãi đó dùng chung với hệ nối đất an toàn điện hạ áp, vì khi đó ngưỡng nghiêm ngặt hơn là 4 Ω được áp dụng.

Vì sao điện trở nối đất tăng sau vài năm?

Ba nguyên nhân chính: ăn mòn điện hóa tại mối nối và thân cọc, đất co ngót tạo khe hở quanh cọc làm giảm tiếp xúc, và thay đổi độ ẩm nền do hạ mực nước ngầm hoặc thi công hạ tầng lân cận. Đo định kỳ là cách duy nhất phát hiện sớm.

Có thể dùng cọc tiếp địa chung cho nhiều tủ điện không?

Có, và nên như vậy. Một hệ nối đất chung được liên kết đẳng thế tốt hơn nhiều hệ rời rạc, vì loại bỏ chênh lệch điện thế giữa các tủ. Điều kiện là tiết diện dây liên kết đủ lớn và các mối nối được bảo vệ chống ăn mòn.

Tóm tắt

TCVN 4756:1989 trả lời câu hỏi an toàn điện, không trả lời câu hỏi chống sét. Ngưỡng 4 Ω dành cho lưới hạ áp trung tính nối đất trực tiếp; 10 Ω dành cho nguồn nhỏ dưới 100 kVA và cho các điểm nối đất lặp lại. Với lưới trên 1000 V trung tính cách ly, giá trị được tính từ dòng chạm đất theo công thức 250/I hoặc 125/I, kèm trần cứng 10 Ω hoặc 4 Ω.

Khi công trình có cả hai hệ, cách làm an toàn nhất là gộp và liên kết đẳng thế, lấy ngưỡng nghiệm thu nghiêm ngặt nhất, và bổ sung SPD phối hợp theo cấp. Tách rời hai bãi tiếp địa nghe có vẻ an toàn nhưng thực tế thường tạo ra rủi ro lớn hơn.

Cần khảo sát điện trở suất, thiết kế bãi tiếp địa hoặc đo kiểm nghiệm thu cho công trình của bạn? Liên hệ Chống Sét Toàn Cầu để được tư vấn theo hiện trạng nền đất và loại hệ điện thực tế.

Tham gia bình luận: